Đò chiều còn đó người đưa, Ngâm Ai Tư Vãn người xưa đâu rồi

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

PHONG KIỀU DẠ BẠC


   楓橋夜泊
   月落烏啼霜滿天,
   江楓漁火對愁眠。
   姑蘇城外寒山寺,
   夜半鐘聲到客船。
   張繼

PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc Ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền
Trương Kế

Trời đầy sương, trăng lặn, quạ kêu
Nằm trăn trở bên bến phong lập lòe ánh lửa chài
Chùa Hàn Sơn ngoài thành Cô Tô
Buông tiếng chuông công phu (làm tỉnh giấc) khách trên thuyền

ĐÊM BẾN PHONG KIỀU

Trăng tà quạ ngóng trời sương
Bờ phong lưa đốm chài vương giấc gầy
Cô Tô đêm lặng canh chầy
Chuông Hàn Sơn nhẹ tiếng lay khách thuyền


Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

LƯƠNG CHÂU TỪ




 
葡萄美酒夜光杯, 
欲飲琵 琶馬上催。 
醉臥沙場君莫笑, 
古來征戰幾人回。
王翰

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Vương Hàn

Rượu bồ đào sóng sánh ánh dạ quang trong chén
Tỳ bà giặc Hồ đã thúc quân vậy cứ hãy uống đi
Có say nằm giữa sa trường ai nỡ giễu cười ta
Vì xưa nay nơi chiến trận đã mấy ai được trở về

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU

Bồ đào chén ánh dạ quang
Cứ nâng dù giặc thúc vang tỳ bà
Vùi say mặc kẻ cười ta
Mấy khi chinh chiến ai sa trường về



Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

BÀI VĂN BIA TRÊN NÚI THẠCH BI

Núi Đá Bia

Hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, hiện giờ cũng như xưa kia được rạch phân ranh giới bằng dãy núi Đại Lãnh kỳ vĩ. Trên dãy Đại Lãnh đoạn Đèo Cả có Thạch Bi Sơn, hay còn gọi là Núi Đá Bia.

Sách vở của Đại Việt biết đến Thạch Bi Sơn khởi từ cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tôn năm Tân Mão (1471). Nói về cuộc nam chinh nầy, có sách cho rằng quân Đại Việt đã tiến tới Đại Lãnh, như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí đã ghi (Lê Quang Định soạn năm 1806), được Đại Việt Địa Dư Toàn Biên (gọi tắt là Địa Dư Toàn Biên, còn gọi là Phương Đình Dư Địa Chí do Phương Đình - Nguyễn Văn Siêu và Hữu Trúc - Bùi Quỹ biên soạn dưới triều Tự Đức), mục Tỉnh Bình Định, phụ chép về núi Thạch Bi chép lại :

“Núi nầy ở huyện Tuy Hòa, sách Dư Địa Chí của Lê Quang Định chép rằng : Tương truyền rằng, Lê Thánh Tôn đánh Chiêm Thành, mở cõi đến đấy, lên trên vách đá đỉnh núi, đục đá khắc bia làm địa giới nước ta với nước Chiêm, cho nên gọi núi đó là núi Thạch Bi, nay nét chữ mòn đi, không thể biết được, chỉ tương truyền văn bia ấy nói rằng : Chiêm Thành quá thử binh bại quốc vong, An nam quá thử tướng tru binh chiết, nghĩa là Chiêm Thành sang quá chỗ nầy thì quân thua nước mất. An Nam sang quá chỗ nầy thì tướng bị giết quân tan  …”

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

PHƯỚC AN THƯƠNG HỘI

Cụ Đào Phan Duân

Phước An Thương Hội là một công ty kinh doanh hai dịch vụ buôn bán và vận tải, tại tỉnh Bình Định, nhằm mục đích kiếm tiền lời trợ giúp du học sinh của tỉnh nhà ăn học thành tài.

Thành phần tham gia công ty gồm các vị túc nho từ Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân, Tú tài, Hàn lâm của hai phủ Tuy Phước và An Nhơn. Vì vậy, ghép hai địa danh là Phước An, đặt tên cho thương hội.

1 - Cách tổ chức:

- Người sáng lập Phước An Thương Hội là Phó bảng Đào Phan Duân ở làng Biểu Chánh, nay thuộc xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, làm cố vấn thường trực.

- Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, người làng Hòa Cư, nay thuộc xã Nhơn Hưng, huyện An Nhơn, được mời làm cố vấn danh dự.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

CÂY CẦU SẮT THÉP


Người Pháp có hai công trình thật thú vị, chúng ra đời gần như cùng một lúc và nay đều cùng trở thành biểu tượng của hai quốc gia : Tháp Eiffel, kiến trúc bằng sắt thép cao ngất dựng bên bờ sông Seine và Tượng Nữ Thần Tự Do, tác phẩm điêu khắc đồ sộ đứng trên đảo Liberty. Những ai vui bước đến Paris đều muốn lên tới tận đỉnh tháp cao hơn 300m để rộng tầm nhìn Kinh đô hoa lệ của Pháp. Những ai đặt chân đến New York đều muốn ghé thăm Tượng đài quốc gia của Hoa Kỳ để chiêm ngưỡng hào quang Lý tưởng tự do. Cả hai công trình đến nay xem ra đã hơn 120 năm tuổi.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

THƯỞNG PHẠT KHÔNG CÔNG BẰNG


Khi một kẻ cầm vận mệnh đất nước như vua Khải Định đã dám tôn mình như thần thánh, nghênh ngang trên đầu dân … thì tránh sao khỏi sự lạm quyền trong việc gìn giữ kỷ cương, phép nước. Tội thứ hai của vua Khải Định trong Thư Thất điều hài ra chính là tội vua lạm quyền thưởng phạt. Tội đáng chết bằng mười vua cho biến thành không, tội chưa phạm đến mảy lông nào vua biến ra thành có. Vua có người thị vệ tên Nguyễn Đắc Vọng, hằng đêm chỉ có nhiệm vụ ôm vua ngủ cũng được vua ban Ngũ đẳng Thị vệ …

Một triều đại thưởng phạt không công bình, làm sao mà có được lòng dân, họa chăng chỉ được lòng của những kẻ xu phụ, những kẻ cơ hội. Phan Châu Trinh trong Thư Thất điều đã vạch ra cái tội lạm quyền thưởng phạt chính là cái họa làm đảo điên đất nước đưa đến cái họa diệt vong vậy.

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

TÔN BẬY QUÂN QUYỀN


Trong thư thất điều vạch 7 tội của vua Khải Định, Phan Châu Trinh chỉ ra tội thứ nhất là Tôn bậy quân quyền.

Vạch tội một ông Vua, Phan Châu Trinh hài tội cả hệ thống quyền lực tôn quân, xem Vua là thiên tử - con trời thay mặt cho trời thống trị. Nền tảng lý luận của ông lấy ngay từ tư tưởng Nho gia chính thống : Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (trong nước dân là quý nhất, thứ đến mới nói tới đất đai, vật sản, còn vua thì xem nhẹ, không bằng dân và xã tắc). Ông còn mượn tư tưởng phương Tây để xác định vị trí của một ông Vua : Ông Vua hay ông Giám quốc, chẳng qua là người thay mặt cho một nước, cũng như một người quản lý thay mặt cho một Công ty mà thôi

Phan Châu Trinh chỉ thẳng cái nghêng ngang của Khải Định : Bệ hạ lại dám tôn mình như thần thánh, nghênh ngang trên đầu dân. Vậy thời chẳng những dân Việt Nam không thể dung được Bệ hạ, mà dân nước Pháp lại càng khi dễ Bệ hạ nữa

Vì những ông vua từng cho mình là thần là thánh như vua Kiệt, vua Trụ : Rút cuộc lại, vua Kiệt thời đày ra nội Nam Sào, vua Trụ thời đầu treo cờ Thái Bạch